Search
Video phóng sự
Khuôn viên bệnh viện
Các chuyên khoa
Giới Thiệu
 Bản in     Gởi bài viết  
Giới thiệu Bệnh viện Nhân Dân 115

Sau một thời gian chuẩn bị bổ sung đầy đủ chi tiết các văn bản bàn giao về nhân sự, cơ sở vật chất, ngày 14 tháng 7 năm 1989, tại hội trường Phân hiệu đã tiến hành bàn giao giữa Học viện Quân y với UBND Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phần tham dự gồm có:

* Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Diệp - Bí thứ Đảng ủy HVQY
* Thiếu tướng GS-TS. Lê Thế Trung - Giám đốc HVQY
* Đại tá Nguyễn Như Thiện - Bí thư Đảng ủy PH.HVQY
* Đại tá bác sĩ Phan Thế Nghiệp - Chỉ huy trưởng PH.HVQY

Cùng các cơ quan ban ngành khác của Học viện và Phân hiệu.
Về phía UBND Thành phố và Sở Y tế có:

* Bà Đỗ Duy Liên - Phó chủ tịch UBND TP.Hồ Chí Minh
* Bác sĩ Dương Quang Trung - Giám đốc Sở Y tế

Cùng một số cán bộ đại diện các ban ngành của Thành phố và Sở Y tế đã tới dự.

Tại lễ bàn giao, đồng chí thiếu tướng Nguyễn Ngọc Diệp đọc quyết định của Bộ Quốc phòng, giao Viện Quân y 115 và một phần Phân hiệu HVQY về Thành phố Hồ Chí Minh, (quyết định số107/QĐ-QP ngày 14-4-1989). Đồng chí Đỗ Duy Liên - Phó Chủ tịch UBND Thành phố, đọc quyết định của UBND Thành phố tiếp nhận Viện Quân y 115 và giao cho Sở Y tế trực tiếp quản lý, (quyết định số 229/QĐ-UB ngày 4-5-1989).

Ngày 01 tháng 8 năm 1989, căn cứ vào 2 quyết định trên, đại tá BS Phan Thế Nghiệp, chỉ huy trưởng Phân hiệu và BS Dương Quang Trung, Giám đốc Sở Y tế Thành phố mới ký bàn giao cụ thể về nhân lực, tài sản và các vấn đề khác của VQY 115 cho Sở Y tế tiếp nhận. Theo văn bản bàn giao và tiếp nhận của 2 bên, về mặt tổ chức nhân sự trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng của Viện Quân y 115 có trước ngày 01 tháng 8 năm 1989.

Ngày 02 tháng 8 năm 1989, bác sĩ Nguyễn Quốc Bình - Giám đốc, đã triệu tập họp Ban Giám đốc mới và Đảng ủy mới của Viện. Nội dung, trưng cầu ý kiến cán bộ về việc đổi tên Bệnh viện, để phù hợp với yêu cầu, tính chất, đặc điểm, nhiệm vụ mới. Mặt khác, nay đã chuyển ra dân sự, phiên hiệu của Viện Quân y 115 không còn nữa. Có nhiều ý kiến khác nhau về việc đặt tên mới, như: Bệnh viện Xanh; Bệnh viện Hữu Nghị TP.Hồ Chí Minh; Bệnh viện Hòa Bình; Bệnh viện Nhân dân… Yêu cầu của tên mới là phải chứa đựng yếu tố lịch sử, xã hội và nhân dân. Trong phiên họp ngày 04 tháng 8 năm 1989 có Giám đốc Sở Y tế - Giáo sư, BS Dương Quang Trung dự để quyết định cuối cùng tên của Bệnh viện là gì. Đồng chí Giám đốc Sở gợi ý nên lấy tên bệnh viện là: "Bệnh viện Nhân dân" , phù hợp với giai đoạn mới. Đồng chí Phạm Khiểu và đồng chí Nguyễn Quốc Bình phân tích cho rằng, Bệnh viện 115 là Bệnh viện quân đội trong mấy chục năm qua. Nếu chỉ lấy tên Bệnh viện Nhân dân thì nó chưa thể nói lên được truyền thống trước đây cũng như trước lúc bàn giao. Mặt khác để cho cán bộ, công nhân viên sau này không quên cội nguồn nơi đã rèn luyện mình trưởng thành. Quân y là từ để chỉ lực lượng y tế phục vụ trong quân đội. Còn số 115 mới là cái tên thật, đặc trưng của Bệnh viện trước đây, do vậy đã đề nghị lấy tên là: Bệnh viện Nhân dân 115

Cuối cùng, được hội nghị Đảng ủy và Ban Giám đốc thông qua, Sở Y tế nhất trí.

Ngày 31 tháng 8 năm 1989, UBND Thành phố ra quyết định số 502/QĐ-UB - chính thức thành lập Bệnh viện Nhân dân 115 tại số 520 đường Nguyễn Tri Phương - Phường 12 - Quận 10 - TP.Hồ Chí Minh.

Ngày 24 -10 -1989, Giám đốc Sở Y tế ra quyết định số 368/ QĐ-SYT, về việc bổ nhiệm Ban Giám đốc Bệnh viện Nhân dân 115.

Ngày 25 -10 -1989, UBND Thành phố ra quyết định số 1758/QĐ-TCCQ về việc bổ nhiệm 3 đồng chí:

1. Bác sĩ Nguyễn Quốc Bình, giữ chức Giám đốc B.viện Nhân dân 115.

2.Bác sĩ Nguyễn Công Rực, giữ chức Phó Giám đốc BV.Nhân dân 115

3.Đồng chí Phạm Khiểu, giữ chức Phó Giám đốc B.viện Nhân dân 115

Đến cuối năm 1991, bác sĩ Trần Ngọc Bôn, được bổ nhiệm giữ chức Phó Giám đốc Bệnh viện Nhân dân 115.

Tổ chức Đảng:
Đảng bộ Bệnh viện Nhân dân 115 có 95 đảng viên, trong đó 87 chính thức và 8 dự bị.
Đảng ủy ban đầu có 5 đồng chí được trên chỉ định là:

* Nguyễn Quốc Bình - Bí thư
* Phạm Khiểu - Phó bí thư
* Nguyễn Công Rực - Uy viên
* Nguyễn Ngọc Thạch - Uy viên
* Trương Thị Hồng lạc - Uy viên

Đảng bộ có 13 chi bộ.

Về tổ chức các khoa gồm:
1.Khoa tiêu hoá- máu- nội tiết, BS Trương Thị Hồng Lạc, chủ nhiệm
2.Khoa Tim- thận- khớp- phổi thường, BS Trần Hữu Qúy, chủ nhiệm
3.Khoa Nội thần kinh, bác sĩ Trần Ngọc Khánh, chủ nhiệm
4.Khoa Nội nhiễm, bác sĩ Phan Ngọc Nam, chủ nhiệm.
5.Khoa Ngoại chung, bác sĩ Nguyễn Ngọc Thạch, chủ nhiệm
6.Khoa Ngoại chấn thương, bác sĩ Vũ Văn Châu, chủ nhiệm.
Sau này nhập 2 khoa Ngoại chung và Ngoại chấn thương thành 1 khoa gọi là khoa Ngoại tổng quát, ngày nay gọi là Ngoại tổng hợp, bác sĩ Nguyễn Ngọc Thạch, chủ nhiệm
7.Khoa Liên chuyên khoa, gồm: tai - mũi - họng; răng - hàm - mặt; mắt, bác sĩ Nguyễn Anh Võ, chủ nhiệm.
8.Khoa Gây mê hồi sức, (gồm phòng mổ, hậu phẫu, hồi sức), bác sĩ Phạm Đăng Lư, chủ nhiệm
9.Khoa Dược, dược sĩ Đoàn Minh Phúc, chủ nhiệm
10.Khoa X quang, bác sĩ Nguyễn Việt, chủ nhiệm
11.Phòng khám bệnh, bác sĩ Trương Như Nguyện, chủ nhiệm
12.Khoa Xét nghiệm, bác sĩ Vũ Thường Vụ, chủ nhiệm.
13.Phòng Y vụ, bác sĩ Hà Văn Lợi, trưởng phòng
14.Phòng Tổ chức Hành chính quản trị, do đồng chí Phạm Khiểu- Phó Giám đốc kiêm trưởng phòng. Sau hơn 1 năm tách thành 2 phòng, gồm: Phòng Tổ chức cán bộ do đồng chí Phạm Khiểu, Phó Giám đốc kiêm trưởng phòng và Phòng Hành chính quản trị.
15.Phòng Hành chính quản trị, do bác sĩ Trần Ngọc Bôn, Phó Giám đốc kiêm trưởng phòng. Sau đó bổ nhiệm cử nhân Nguyễn Văn Hiệu, trưởng phòng.
16.Phòng Tài chính-kế toán, cử nhân Vũ Văn Nam, trưởng phòng.
17.Năm 1991 thành lập Khoa Chống đau, bác sĩ Nguyễn Quốc Hưng Bang làm trưởng khoa. Năm 1996, Khoa Chống đau được chuyển sang Bệnh viện Trưng Vương.
18.Khoa Ngoại thần kinh, được thànb lập ngày 14 tháng 12 năm 1991 theo quyết định số 842/ QĐ-SYT-TC do Giám đốc Sở Y tế ký. Bác sĩ Lê Điền Nhi được điều từ Bệnh viện Chợ Rẫy về Bệnh viện Nhân dân 115 làm chủ nhiệm khoa, sau này là Phó Giám đốc Bệnh viện.
19.Năm 1993, tách Khu B ra khỏi Phòng Kế hoạch tổng hợp thành một khoa (khoa dịch vụ) do bác sĩ Trần Phương Hạnh làm chủ nhiệm
20.Khoa Chẩn đoán chức năng, được thành lập do việc tách bộ phận siêu âm, nội soi, điện tim, điện não ra khỏi khoa X quang, bác sĩ Hồ Vân Hằng, chủ nhiệm.
21.Khoa Trang bị - thanh trùng, được thành lập do tách bộ phận trang bị ra khỏi khoa Dược. Dược sĩ Đinh Thái Sơn, chủ nhiệm
22.Khoa Vật lý trị liệu, được thành lập do tách bộ phận Laser ra khỏi Phòng khám bệnh và bộ phận đông y - vật lý trị liệu ra khỏi khoa Nội thần kinh. Trên cơ sở 2 bộ phận đó thành lập khoa Vật lý trị liệu. Bác sĩ Nguyễn Anh Hùng, chủ nhiệm.
23.Khoa Thận - niệu, được thành lập ngày 20 tháng 01 năm 1996 theo quyết định số 58/ QĐ-SYT-TC do Giám đốc Sở Y tế ký, với sự giúp đỡ của giáo sư Conté (Pháp). Bệnh viện xin bác sĩ Phạm Văn Bùi, trưởng khoa Thận nhân tạo bệnh viện Bình Dân về làm trưởng khoa Thận - niệu.
24.Khoa Cấp cứu hồi sức: Cuối năm 1993 tách cấp cứu ra khỏi phòng khám bệnh và thành lập khoa Cấp cứu hồi sức, bác sĩ Trương Như Nguyện làm trưởng khoa.
25.Phòng Điều dưỡng, được thành lập vào năm 1993, cử nhân điều dưỡng Lương Ngọc Nhi làm trưởng phòng.

Chức năng nhiệm vụ của Bệnh viện:
Theo quyết định số 502/QĐ-UB ngày 31-8-1989 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện Nhân dân 115 có 5 chức năng nhiệm vụ:
1. Khám bệnh, điều trị cho nhân dân thành phố và các tỉnh lân cận
2. Nghiên cứu khoa học, tiếp cận và ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến hiện đại, phát huy nền y học cổ truyền, không ngừng nâng cao chất lượng công tác chuyên môn của Bệnh viện
3. Phối hợp với Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng Cán bộ Y tế trong công tác đào tạo, thực tập cho cán bộ, sinh viên, học viên ở các hệ sau đại học, đại học, trung học của Thành phố.
4. Tổ chức thực hiện công tác tuyến, giúp quận, huyện, phường xã, đào tạo nhân viên y tế cộng đồng; phối hợp với y tế quận, huyện, phường xã, thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, trong đó ưu tiên những người thuộc diện chính sách, đồng bào vùng sâu, vùng xa.
5. Quản lý, sử dụng tốt lao động,tài sản, kinh phí được giao, nhằm không ngừng nâng cao hiệu qủa phục vụ; thường xuyên giáo dục chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức cách mạng; bồi dưỡng văn hóa, nghiệp vụ và chăm lo đời sống cán bộ, công chức, người lao động của Bệnh viện.

Bệnh viện Nhân Dân 115


Khó khăn thử thách của những ngày đầu khi Bệnh viện Nhân dân 115 chuyển sang dân sự
Để hoàn thành tốt 5 nhiệm vụ của Thành phố và ngành Y tế giao cho, ngày 18 tháng 11 năm 1989, Đảng ủy Bệnh viện đã họp đánh giá thực trạng tình hình mọi mặt của Bệnh viện. Những thuận lợi đó là:

* Đất nước đang đổi mới, con đường hợp tác phát triển kinh tế đang rộng mở.
* Bệnh viện được các cơ quan ban ngành của Sở và Thành phố quan tâm giúp đỡ.
* Cán bộ, công nhân viên Bệnh viện đều là những người đã từng mặc áo lính, mang truyền thống Bộ đội Cụ Hồ - khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ, đã ra quân là đánh thắng.

Tuy nhiên, những khó khăn của buổi ban đầu cũng được Đảng ủy, Ban Giám đốc đánh giá:
- Về trình độ chuyên môn tay nghề của bác sĩ trong bệnh viện, có:
* 6 bác sỹ chuyên khoa cấp II
* 24 bác sỹ chuyên khoa cấp I
* 56 bác sỹ, dược sỹ, cao đẳng y tế và đại học khác.
* Bệnh viện không có giáo sư, tiến sĩ, phó tiến sĩ
- Trang thiết bị cũ kỹ, hư hỏng nhiều. Phần lớn máy móc thiết bị của Mỹ để lại hoặc các nước xã hội chủ nghĩa trước đây viện trợ, ta đã dùng qua thời kỳ chiến tranh ở miền Bắc và chiến trường đem về sử dụng.
- Nhà cửa, phòng ốc điều trị là của chế độ cũ đang xây dựng dỡ dang, năm 1975 ta tiếp quản. Từ đó đến nay, tuy có sửa sang đôi chút, nhưng nhìn tổng thể thì không đáp ứng được nhiệm vụ của một Bệnh viện đa khoa trong công cuộc đổi mới của một thành phố lớn.
100% y, bác sĩ, hộ lý, y công, từ quân đội chuyển sang chưa có hộ khẩu thành phố, 70% chưa có nhà riêng, sống trong khu tập thể của Bệnh viện.
- Đời sống của cán bộ nhân viên gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu dựa vào tiền lương Nhà nước. Bệnh viện mới chuyển sang dân sự, không có qũy vốn. Kết thúc năm 1989, đón năm mới 1990 (năm Canh ngọ), Ban Giám đốc chi cho mỗi cán bộ công nhân viên 15.000đ để ăn Tết.
- Trước đây là bệnh viện Quân đội, điều trị cho thương binh, bệnh binh. Vì vậy đa số nhân dân thành phố và các tỉnh chưa biết đến Bệnh viện Nhân dân 115.

Những chủ trương biện pháp đưa Bệnh viện đi lên.

Đảng ủy đã ra nghị quyết gồm 7 điểm cần phải làm:

1. Tổ chức sinh hoạt, ổn định chính trị tư tưởng trong từng đảng viên và nhân viên khoa phòng. Nêu hết những khó khăn, thuận lợi trước mắt và lâu dài để mọi người thông suốt, tham gia bàn bạc xây dựng Bệnh viện.

2. Tranh thủ sự hỗ trợ của Uy ban và các ban ngành của Thành phố, Sở Y tế trong việc đầu tư sửa chữa, tăng cường trang thiết bị mới cho Bệnh viện.

3. Tăng cường kết nghĩa và vận động các đơn vị kết nghĩa tham gia xây dựng Bệnh viện.

4. Thành lập các đoàn công tác đi về các vùng chiến khu, vùng sâu vùng xa, nơi có xảy ra thiên tai bão lụt để khám chữa bệnh cho các gia đình chính sách, người nghèo. Tặng qùa và đóng góp xây dựng nhà tình nghĩa cho các Mẹ Việt Nam Anh hùng ở Quận 10, Tân Bình, Củ Chi.

5. Đưa cán bộ y, bác sĩ đến các bệnh viện bạn học tập. Cử cán bộ đi học tập trung về chính trị cao cấp, ngoại ngữ và cả chuyên môn kỹ thuật trong và ngoài nước.

6. Xin thêm chỉ tiêu biên chế bệnh viện. Mời một số giáo sư, cán bộ đầu ngành đang công tác tại thành phố tham gia vào quá trình chẩn đoán điều trị. Tiếp nhận những bác sĩ chuyên khoa sâu, có học vị cao, đang có nguyện vọng hợp lý hóa gia đình về thành phố. Tuyển dụng những y bác sĩ học khá giỏi từ các trường trung học, đại học y vào làm việc tại Bệnh viện.

7. Tăng cường các hoạt động thể dục thể thao; giao lưu văn hóa nghệ thuật; quảng cáo về Bệnh viện trên các phương tiện thông tin đại chúng ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.

Để biến các chủ trương trên thành hiện thực, từ ngày 01 tháng 01 năm 1990 cho đến tháng 12 năm 1994 nhiều cuộc sinh hoạt nội bộ kết hợp với các kỳ Đại hội Đảng, Đại hội công nhân viên chức, Đại hội Cựu chiến binh, Đại hội Đoàn thanh niên đã kiểm điểm đánh giá cùng nhau xây dựng, quyết tâm đưa Bệnh viện đi lên.

Tháng 3 năm 1992, đại hội lần thứ II của Đảng bộ Bệnh viện được tiến hành. Đây là đại hội quan trọng, nhằm đánh giá đúng 2 năm thực hiện nghị quyết đại hội lần thứ I, kể từ khi chuyển sang Sở Y tế, từ quân y chuyển sang dân y. Để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo đối với một đơn vị dân sự. Trong nghị quyết, phần đánh giá tổng kết có đoạn viết: Khi chuyển sang Sở Y tế, Bệnh viện có những thay đổi về cơ cấu tổ chức, mô hình hoạt động, tính chất nhiệm vụ, đối tượng bệnh nhân. Đảng ủy đã nắm vững nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng Bệnh viện thực hành, bảo đảm tốt điều trị, huấn luyện và nghiên cứu khoa học, trong đó nổi lên hàng đầu là công tác điều trị. Để làm được điều đó, Đảng ủy nhanh chóng lãnh đạo ổn định về mọi mặt, chuyển toàn bộ bệnh nhân quân đội và nhận chỉ tiêu của Sở Y tế là 250 giường.

Vốn là một Quân y viện, nằm giữa các bệnh viện bạn, người dân chưa biết việc chuyển tính chất hoạt động là một Bệnh viện dân sự hoặc có người biết nhưng khi có bệnh vẫn chưa muốn vào. Có bệnh nhân vừa nhập viện thấy trang thiết bị cũ kỹ, nhà cửa xuống cấp, liền bỏ ra về. Để khắc phục nhược điểm trên, Đảng ủy, Ban Giám đốc tổ chức nhiều cuộc họp bàn biện pháp giải quyết. Trước hết, củng cố tư tưởng cho cán bộ công nhân viên, đề cao tinh thần thái độ phục vụ, tổ chức tham quan rút kinh nghiệm ở các đơn vị bạn, tranh thủ sự giúp đỡ của các giáo sư, chuyên viên; tăng cường củng cố các chế độ; nâng cao tay nghề cho hệ thống điều dưỡng. Trên cơ sở hiện có, Bệnh viện được Sở Y tế, mà người trực tiếp là Giám đốc bác sĩ Dương Quang Trung, tiếp tục trang bị máy móc hiện đại, đáp ứng yêu cầu về tiến bộ kỹ thuật.

Sự lãnh đạo một cách toàn diện của Đảng ủy đã đưa Bệnh viện nhanh chóng đi vào qũy đạo hoạt động của Sở Y tế - lượng bệnh nhân ngày càng tăng, đạt và vượt chỉ tiêu trên giao. Mở thêm khoa Ngoại thần kinh, bệnh nhân đông nhưng vẫn làm tốt yêu cầu cấp cứu, điều trị.

Đại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 1992 - 1994 gồm 7 đồng chí:
1/ Nguyễn Quốc Bình Bí thư
2/ Phạm Khiểu Phó bí thư
3/ Nguyễn Công Rực Ủy viên
4/ Nguyễn Ngọc Thạch Ủy viên
5/ Trương Như Nguyện Ủy viên
6/ Trần Hữu Qúy Ủy viên
7/ Phan Ngọc Nam Ủy viên
Đảng bộ có 14 chi bộ.

Các đồng chí trong Đảng ủy, Ban Giám đốc đã thường xuyên gặp gỡ trình bày với các đồng chí lãnh đạo thành phố, các ban ngành để có sự giúp đỡ Bệnh viện khắc phục khó khăn. Rất nhiều cán bộ thành phố quan tâm đến sự phát triển của Bệnh viện. Những người thường xuyên sâu sát giành sự ưu ái cho Bệnh viện là đồng chí phó chủ tịch UBND Thành phố Đỗ Duy Liên và đồng chí giám đốc Sở Y tế - Bác sỹ Dương Quang Trung. Các đồng chí thuyết phục các cơ quan chức năng của Thành phố để đầu tư, xin kinh phí mua sắm cho Bệnh viện. Vận động các đoàn y tế của các nước đến Thành phố, đến Bệnh viện 115 tham quan ủng hộ, kết nghĩa như:

* Bệnh viện Santan (Paris)- hàng năm có các giáo sư, bác sỹ, điều dưỡng sang giúp Bệnh viện.
* Trung tâm Thận nhân tạo Holulu (cộng hòa Pháp)
* Các đoàn phẫu thuật, các đoàn từ thiện nước ngoài.
* Viện bào chế Upsa (Cộng hòa Pháp) xây dựng Khoa Chống đau tại bệnh viện.

Với những hoạt động tích cực của các cá nhân và các tổ chức như đã nêu trên, hàng loạt máy phục vụ chẩn đoán y khoa cùng với các dụng cụ, phương tiện y tế đã được trang bị cho Bệnh viện Nhân dân 115:
- Máy nội soi màu (1990)
- Máy siêu âm trắng đen (1990)
- Máy siêu âm tim màu (1991)
- Máy X quang 500 MA (1991)
- Máy chụp cắt lớp Scanner, đầu tiên ở các tỉnh phía Nam (1991).
- Máy điện não 9 kênh,
- Máy phá rung (tim)
- Các máy thở (phòng mổ, hồi sức)
- Máy rửa phim tự động
- Máy thanh trùng
- Quang kế ngọn lửa
- Máy điện tim gắng sức
- Bộ đại phẫu (ngoại thần kinh)
- Kính hiển vi và các máy xét nghiệm
- Máy phát điện 300 KWA
- Ô tô cấp cứu.
- Sở Y tế đã cho xây hàng rào bao quanh bệnh viện
- v.v…

Thực hiện chủ trương tăng cường kết nghĩa với các đơn vị, địa phương và vận động các đơn vị tham gia xây dựng Bệnh viện. Ngoài những việc đến thăm hỏi nhau, trao đổi kinh nghiệm hoạt động xây dựng của từng đơn vị. Hàng năm, vào dịp kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12), Bệnh viện tổ chức cuộc gặp gỡ họp mặt với các đơn vị kết nghĩa. Bệnh viện tổ chức các đoàn y, bác sĩ đến tận nhà máy, công ty, xí nghiệp để khám bệnh cho công nhân. Những trường hợp bị bệnh nặng, Bệnh viện nhận về điều trị. Trong 4 năm (1990 - 1993) Bệnh viện đã khám bệnh cấp thuốc cho 17.000 lượt người ở các nông trường, xí nghiệp, như:
- Cảng Sài Gòn
- Tổng Công ty Seaprodex
- Nhà máy dệt Long An
- Nhà máy đường Khánh Hội
- Tổng kho xăng dầu Nhà Bè
- Công ty thuốc lá Nam Sài Gòn
- Xí nghiệp gốm 2 Đồng Nai
- Nông trường quốc doanh Cây Trường - Bến Cát - Sông Bé
- Xí nghiệp trang trí nội thất Sài Gòn
- Công ty Vật tư bao bì Thành phố
- Nông trường bò sữa TP.Hồ Chí Minh tại Củ Chi
- Nhà máy dệt Thành Công

Bệnh viện còn tổ chức 37 đoàn khám bệnh cấp thuốc miễn phí và cứu trợ cho đồng bào bị lũ lụt, gia đình chính sách, như các huyện:
- Tam Nông - Đồng Tháp
- Thạnh Hóa - Long An
- Châu Phú - An Giang
- Duyên Hải - TP.Hồ Chí Minh
- Bến Cát - Sông Bé
- Và 1 số địa phương khác

Sự thông cảm và quan hệ giữa các đơn vị với Bệnh viện ngày càng mật thiết và hiệu qủa hơn. Hầu hết các đơn vị kết nghĩađều đăng ký BHYT tại Viện 115. Các đơn vị đã lần lượt tự nguyện đem tiền, vật tư đến xây dựng, cải tạo, trang bị mới nội thất phòng nằm điều trị đặc biệt (khu B) tại Bệnh viện.

Đơn vị mở màn là xí nghiệp Vật tư cơ khí và đông lạnh thuộc Tổng Công ty Seaprodex, cải tạo nâng cấp trang bị nội thất cho 6 phòng loại B (không có máy lạnh) vào năm 1991. Tiếp đến là các đơn vị khác đã đầu tư nâng cấp các phòng loại A (có máy lạnh, tủ lạnh, ti vi, bồn tắm nước nóng) như :
- Cảng Sài Gòn
- UBND Quận Tân Bình
- Xí nghiệp Kho vận, Công ty Vận tải biển Seaprodex
- Tổng kho Xăng dầu Nhà Bè
- Công ty Thuốc lá Nam Sài Gòn
- Công ty Hoa tiêu Khu vực I
- Chi nhánh Tổng công ty Du lịch Việt Nam

Các đơn vị ủng hộ xây dựng cải tạo trang bị phòng loại B, như:
- UBND Quận 10
- Nông trừơng Cây Trường - Bến Cát - Bình Dương
- Trung tâm Vật liệu xây dựng TP.Hồ Chí Minh
- UBND huyện Đức Hòa - Long An
- Xí nghiệp Cơ khí tỉnh Đồng Nai
- Ông Bà Vòng Su Nhọc (Nguyễn Trãi - Q5)
Ngoài ra, Bệnh viện còn xây thêm một số buồng dịch vụ ở các khoa, để phục vụ nhu cầu nằm điều trị của bệnh nhân.

Bệnh viện đã cải tạo, nâng cấp các Khoa Ngoại Tổng quát, Ngoại Thần kinh, Nội Tiêu hóa, Nội Tim mạch, Nội Nhiễm, Nội Thần kinh, Phòng Khám bệnh, Liên Chuyên khoa, Hồi sức cấp cứu, Chẩn đoán chức năng, Dược, Trang bị thanh trùng… Hầu hết các đơn vị kết nghĩa đều đăng ký BHYT tại Viện 115.

Bệnh viện tổ chức mời giáo viên đến dạy ngoại ngữ (Pháp văn) cho cán bộ, bác sỹ, y tá. Giám đốc và các chủ nhiệm khoa phòng đều tham gia học tập. Bệnh viện cử 5 bác sỹ đi học ngoại ngữ tập trung tại Viện Vệ sinh Y tế Công cộng; các bác sĩ, kỹ thuật viên học các lớp siêu âm tổng quát và siêu âm tim, cử nhân xét nghiệm, cử nhân vật lý trị liệu, cử nhân x quang, kỹ thuật điều khiển máy scanner (học ở Pháp).

Bồi dưỡng nâng cao trình độ cho toàn bộ y tá sơ cấp lên trung cấp. Bồi dưỡng thường xuyên kiến thức chuyên môn cho chị em y công.
Số cán bộ, bác sĩ được cử đi học, tập huấn lên đến trên 100 người trong tổng số biên chế 300 của Bệnh viện. Đây là một nỗ lực lớn của đơn vị, vừa đáp ứng nguồn nhân lực hiện tại vừa đáp ứng nhu cầu trong tương lai.

* Tháng 9 năm 1994, đại hội Đảng bộ Bệnh viện lần thứ III. Đại hội đã nghe báo cáo tổng kết hoạt động của Đảng bộ nhiệm kỳ 1992 -1994 và phương hướng công tác lãnh đạo nhiệm kỳ mới. Đại hội đã thông qua nghị quyết và bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 7 đồng chí:
- Nguyễn Quốc Bình Bí thư
- Phạm Khiểu Phó bí thư
- Nguyễn Công Rực Ủy viên
- Trần Hữu Qúy Ủy viên
- Phan Ngọc Nam Ủy viên
- Vũ Thưỡng Vụ Ủy viên
- Nguyễn Phan Việt Ủy viên
Đảng bộ có 11 chi bộ.

Năm 1994, Sở Y tế giao chỉ tiêu 350 giường bệnh; 1995 là 390 giường; 1996 là 400 giường; 1997 là 450 giường. Giường bệnh tăng, chỉ tiêu biên chế cũng tăng theo. Bệnh viện đã tuyển dụng 24 bác sĩ và 38 điều dưỡng. Hợp đồng với nhiều giáo sư, bác sĩ, tiến sĩ đến giúp đỡ Bệnh viện trong quá trình chẩn đoán, điều trị bệnh nhân, như giáo sư Nguyễn Mạnh Phan, giáo sư Ngô Gia Hy, giáo sư Trần Hậu Tư, giáo sư Nguyễn Văn Ut, giáo sư Nguyễn Khánh Dư, giáo sư Nguyễn Địch, giáo sư Đặng Văn Chung, giáo sư Lê Văn Thành, thượng tá tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, tiến sĩ bác sĩ Trương Văn Việt,…

Để giải quyết vấn đề "an cư lạc nghiệp" cho cán bộ công nhân viên, Bệnh viện đã làm việc với Công an Thành phố, Công an Quận 10, Sở Lao động TBXH, Sở Y tế, Ban Tổ chức chính quyền Thành phố để làm các thủ tục nhập khẩu cho 269 cán bộ công nhân viên.
Bệnh viện đề nghị Học viện Quân y làm các thủ tục để được cấp giấy phép xây dựng nhà cho từng hộ gia đình.

Đối với các buồng dịch vụ (gọi là buồng đặc biệt) ở khu B, của các đơn vị kết nghĩa, đầu tư nâng cấp để cán bộ công nhân viên của họ đến nằm điều trị. Khi không có cán bộ nhân viên của các đơn vị đó nằm điều trị thì Bệnh viện bố trí cho bệnh nhân khác. Số tiền thu được, sau khi trừ các chi phí, Bệnh viện dùng để bù đắp trang trải một phần cho người nghèo, những người không nơi nương tựa; một phần đưa vào qũy phúc lợi nhằm nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên và chi cho các hoạt động văn hóa, thể thao. Bệnh viện luôn quan tâm bệnh nhân nghèo, giảm miễn viện phí khá cao so với các bệnh viện khác.

Đánh giá tổng quát những kết qủa đạt được trong giai đoạn (1989 - 1998)

Là giai đọan khó khăn nhất, vì từ quân đội chuyển ra dân sự, nhưng nhờ sự quyết tâm lãnh đạo của Đảng uỷ, Ban Giám đốc từng bước đưa Bệnh viện tiến lên ngang hàng các bệnh viện bạn trong thành phố. Tinh thần phục vụ của nhân viên Bệnh viện được nhân dân khen ngợi. Đời sống cán bộ công nhân viên chức ngày càng được cải thiện. Tay nghề của bác sĩ, y tá được đào tạo bồi dưỡng cơ bản. Bệnh viện còn được sự quan tâm chỉ đạo của Thành phố và Sở Y tế, sự giúp đỡ của các đơn vị kết nghĩa, nên đã có một bước trưởng thành trên mọi lĩnh vực.

1) Trình độ chẩn đoán, điều trị ngày càng được nâng cao, hạn chế tỷ lệ tử vong, rút ngắn thời gian nằm viện trung bình từ 21 xuống còn 17 - 18 ngày trên một bệnh nhân. Các bác sĩ đi học ở các trường trong và ngoài nước về đều được sắp xếp, bố trí phù hợp với khả năng của mình. Người đi học về bồi dưỡng cho những người chưa được học; thực hiện phương thức tự đào tạo. Hàng chục kỹ thuật viên máy chụp XQ cắt lớp, siêu âm, thận nhân tạo đã trưởng thành tại Bệnh viện. Nhiều bác sĩ ngoại thần kinh, nội tim mạch, gây mê hồi sức, cấp cứu cũng tự vươn lên từ cơ sở.

Công tác nghiên cứu khoa học cũng được đẩy mạnh, nhiều bác sĩ đã được hội đồng khoa học đánh giá cao. Trong đó một số đề tài của Khoa Ngoại thần kinh đã được khen thưởng. Bác sĩ Lê Điền Nhi là người tích cực nghiên cứu và có nhiều đề tài có giá trị được ứng dụng vào thực tế. Nhiều bác sĩ của Bệnh viện tham gia huấn luyện tại bệnh viện và Trung tâm Đào tạo, đồng thời các Bộ môn Nội thần kinh, Tai-mũi-họng, chốt tại bệnh viện, vừa huấn luyện sinh viên vừa giúp đỡ Bệnh viện. Ngày 19 tháng 3 năm 1998, bác sĩ Nguyễn Quốc Bình có đề tài nghiên cứu "một số khía cạnh ghép thận để phục vụ ghép thận trên người", được Bộ Khoa học công nghệ môi trường cấp bằng khen (Bộ trưởng Chu Tuấn Nhạ ký).

2) Nhiều trang thiết bị máy móc hiện đại, đáp ứng kịp thời công tác cấp cứu, điều trị bệnh nhân. Máy chụp cắt lớp (CT Scanner) đầu tiên ở các tỉnh phía Nam được lắp đặt tại Bệnh viện Nhân dân 115 cùng với việc khánh thành khoa Ngoại thần kinh vào tháng 12 năm 1991, đã góp phần tích cực "chia lửa" cùng với Bệnh viện Chợ Rẫy, cấp cứu hàng ngàn người bị tai nạn giao thông.
Máy nội soi màu, siêu âm tim màu, máy X quang 500 mA, máy điện não 9 kênh, hệ thống máy chạy thận nhân tạo và các trang thiết bị ở phòng mổ, khoa hồi sức cấp cứu, cùng với tinh thần làm việc nhiệt tình, tận tụy của đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng đã đem lại sự sống, niềm tin cho bao nhiêu bệnh nhân và gia đình họ.

3) Giữ vững và phát huy truyền thống tốt đẹp của anh Bộ đội Cụ Hồ, "uống nước nhớ nguồn" , "hết lòng vì người bệnh" , …
Là những y bác sĩ nhiều năm phục vụ trong quân đội, từng trải qua cuộc chiến tranh chống Mỹ và chiến tranh biên giới. Ngày ngày sống cùng dân, được nhân dân đùm bọc cưu mang che chở. Sau ngày giải phóng, Bệnh viện về tiếp quản, đóng trên địa bàn thành phố ngày càng được các địa phương, đồng bào đồng chí giúp đỡ. Nay Bệnh viện chuyển sang dân sự, những người lính lại về với dân, phục vụ nhân dân. Ngay từ buổi đầu chuyển sang cơ chế mới, Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện đã chỉ đạo:
- Chăm sóc người bệnh như chăm sóc người thân của mình
- Không vì thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu thuốc điều trị mà để bệnh nhân tử vong.
- Mọi người đến bệnh viện điều trị đều được đối xử công bằng; vui vẻ hướng dẫn giúp đỡ người thăm nuôi.
- Thực hiện tốt việc chăm sóc các đối tượng chính sách như Mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng. Tích cực tham gia chương trình về nguồn, đi vùng sâu vùng xa, cứu trợ vùng thiên tai.

Bệnh viện đã phát động nhiều phong trào thi đua sôi nổi, có tính đột kích đẩy mạnh từng mặt công tác với những nội dung rất cụ thể. Phong trào thi đua đã góp phần nâng cao trình độ chuyên môn của bác sĩ, y tá, rèn luyện phẩm chất đạo đức nghề nghiệp. Tại Bệnh viện, ngày cũng như đêm, các y bác sĩ thường trực làm nhiệm vụ cứu chữa người bệnh bằng tất cả nhiệt huyết và tình cảm của mình. Họ phải vượt qua những khó khăn thử thách về vật chất, tinh thần của cuộc sống. Uy tín của Bệnh viện ngày càng được nâng lên. Bệnh nhân ngày càng đông, có lúc lên tới 600 bệnh nhân, không đủ giường để tiếp nhận. Tuy nhiên, Ban lãnh đạo luôn tìm cách khắc phục khó khăn để khi bệnh nhân đến bệnh viện phải được điều trị, cứu chữa kịp thời.

4) Thực hiện kế hoạch chống thấm, chống dột toàn bộ mái bằng lầu 1. Sửa chữa phòng điều trị; làm lại hệ thống cấp nước, thoát nước; làm hàng rào, san lấp ao hồ…. Đoàn thanh niên Bệnh viện cùng với Quận đoàn 3 làm "vườn hoa Thanh niên"; kết hợp với Hội Phụ nữ Quận 10 làm vườn hoa, dựng tượng Bác Hồ trước cửa Bệnh viện. Viện đã liên kết với các đơn vị cải tạo nâng cấp 42 phòng điều trị với đầy đủ tiện nghi sinh hoạt như máy điều hoà nhiệt độ, tủ lạnh, ti vi, điện thoại, máy nước nóng…, nhờ vậy, bộ mặt của Bệnh viện được đổi mới, khang trang đẹp đẽ hơn; đáp ứng yêu cầu dịch vụ y tế trong thời kỳ kinh tế thị trường.
Hệ thống buồng bệnh, nhà làm việc được cải tạo nâng cấp, đảm bảo yêu cầu nhiệm vụ điều trị, huấn luyện, thực tập cho sinh viên, học viên của Trung tâm Đào tạo, Trường Trung cấp Quân y và Phân hiệu Học viện Quân y. Số lượng học viên, sinh viên thực tập có lúc lên tới 70 - 80 người một ngày.

5) Đời sống vật chất được cải thiện; phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao hoạt động sôi nổi.
Ngoài tiền lương, Bệnh viện trích qũy phúc lợi chi tiền thưởng hàng tháng (tiền ABC) và tiền ăn trưa cho cán bộ nhân viên, bình quân 500.000đ/người.
Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội Cựu chiến binh đã phối hợp tổ chức nhiều hoạt động văn - thể, như thi đấu giữa các khoa, phòng về bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, văn nghệ và mời các đơn vị kết nghĩa đến giao lưu thi đấu. Nhiều năm tham gia trong ngành y tế đã đoạt giải:
-Giải nhất cầu lông
- - -Giải nhì bóng đá nam
-Giải ba bóng chuyền nam
-Nhiều bài hát, bài thơ đã được sáng tác nói về Bệnh viện như bài Những giọt dịch truyền trong đêm; Ai qua Bệnh viện 115…
-Đội văn nghệ của Bệnh viện đoạt giải 3 hội diễn văn nghệ do Liên đoàn Lao động Thành phố tổ chức.

6) Về hoạt động xã hội - từ thiện: Trong một thời gian ngắn, Bệnh viện đã khám chữa bệnh cho 45 Ba Mẹ Việt Nam Anh hùng của Quận 10; 32 Bà Mẹ ở Quận Tân Bình; 16 Bà Mẹ ở Củ Chi và 1 Bà Mẹ ở Huyện Châu Phú - An Giang. Bệnh viện cử nhiều đợt y bác sĩ xuống tận đồng bằng sông Cửu Long khám bệnh cấp thuốc cho đồng bào. Trong những chuyến đi về nguồn tại Củ Chi, Đức Hòa - Long An hay tận vùng biên giới Tây nam Tổ quốc (xã Lương An Trà), xe chở đoàn khám bệnh không qua được những con đường dài sình lầy, các y tá, bác sĩ phải khiêng những thùng thuốc gói hàng đến kịp thời gian địa điểm đã định - nơi bao người lao động nghèo đang chờ để được khám bệnh cấp thuốc, tặng qùa.
Những năm 1990, nhân dân các tỉnh miền Nam và cả các tỉnh miền Trung, miền Bắc đã biết đến Bệnh viện Nhân dân 115 thông qua báo đài như báo Cựu chiến binh Việt Nam, báo Sài Gòn giải phóng, đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, đài truyền hình Long An, đài truyền hình VTV3 Trung ương…

7) Ngoài những nhiệm vụ đã được nêu trong quyết định thành lập Bệnh viện, năm 1996 thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc huy động lực lượng dự bị động viên trong ngành y tế, Bệnh viện Nhân dân 115 đã thành lập bệnh viện dã chiến, sẵn sàng chống thảm hoạ. Bệnh viện thành lập đội dã chiến tham gia diễn tập ở thành phố (PT96), bác sĩ Hà Văn Lợi làm đội trưởng. Quá trình chuẩn bị và diễn tập đều có sự tham gia của Ban Giám đốc, các phòng ban. Do vậy, các đợt diễn tập, Bệnh viện Nhân dân 115 đều được Thành phố, Sở Y tế tặng bằng khen, giấy khen.
Thành tích trong những năm 1989 - 1998, đã thể hiện sự cố gắng lớn, tinh thần đoàn kết, nhiệt tình, trách nhiệm của toàn thể cán bộ, bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên khác. Bệnh viện nhiều năm liền đã được Thành phố tặng bằng khen. Ngày 5 tháng 5 năm 1995, bác sĩ giám đốc Nguyễn Quốc Bình được Nhà nước tặng danh hiệu THẦY THUỐC ƯU TÚ.
Đây là một chặng đường đáng tự hào, ghi đậm dấu ấn trong những trang sử vàng của Bệnh viện.

* Tuy nhiên trong thời kỳ từ tháng 12 năm 1996 đến tháng 2 năm 1998, các hoạt động điều trị; nghiên cứu khoa học; giảng dạy, thực hành thực tập của sinh viên; công tác tuyến; kết nghĩa quân dân… vẫn hoạt động bình thường. Nhiều mặt tiếp tục phát huy tốt những kết qủa đã đạt được. Đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ công nhân viên vẫn ổn định. Nhưng, vấn đề nổi lên là mâu thuẫn, những vướng mắc trong Đảng ủy cũng như Ban Giám đốc Bệnh viện và một số cán bộ chủ chốt ở các khoa phòng, không thể giải quyết được, phải thông qua Thành ủy. Đó là sự mất đoàn kết nội bộ ban lãnh đạo kéo dài, một số cán bộ không thực hiện được vai trò là người lãnh đạo, là người duy trì sự đoàn kết trong Đảng, trong đơn vị; vi phạm nguyên tắc lãnh đạo của Đảng. Bài học cho mỗi chúng ta khi làm công tác lãnh đạo quản lý một đơn vị là phải thực hiện nguyên tắc lãnh đạo của Đảng; phải thực hiện sự đoàn kết trong Đảng, trong quần chúng; phải thực hiện lời dạy của Bác Hồ: giữ gìn sự đoàn kết của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình; đoàn kết đại đoàn kết, thành công đại thành công.

Bánh xe lịch sự tiếp tục quay, một thời kỳ mới lại bắt đầu.
Ban Giám đốc cũ nghỉ hưu hoặc chuyển công tác. Ban Giám đốc mới được Sở bổ nhiệm tiếp tục lãnh đạo, điều hành bệnh viện tiến lên.
Bệnh viện Nhân Dân 115


Tổ chức bộ máy
- Theo quyết định số 792/QĐ-UB-NC ngày 18 tháng 02 năm 1998 của UBND Thành phố, bổ nhiệm BS Nguyễn Quốc Khánh, Phó Giám đốc BV Trưng Vương, nay giữ chức vụ Giám đốc Bệnh viện Nhân dân 115.
- Theo quyết định số 793/QĐ-UB-NC ngày 18 tháng 02 năm 1998 của UBND Thành phố bổ nhiệm BS Vũ Bằng Giang, trưởng phòng dịch vụ y tế, nay giữ chức vụ Phó Giám đốc Bệnh viện Nhân dân 115.
- Ngày 31 tháng 8năm 1998, BS Lê Điền Nhi, trưởng khoa Ngoại thần kinh, được bổ nhiệm chức vụ Phó Giám đốc Bệnh viện Nhân dân 115 với quyết định số 896/QĐ-TCCQ của Ban Tổ chức chính quyền Thành phố.

* Ban chấp hành Đảng bộ Bệnh viện (từ tháng 2 đến tháng 11 năm 1998) gồm có 5 đồng chí, trong đó 2 đồng chí mới được chỉ định và 3 đồng chí Đảng ủy cũ:
- Bác sĩ Vũ Bằng Giang - Bí thư (chỉ định)
- Bác sĩ Nguyễn Quốc Khánh - Phó bí thư (chỉ định)
- Bác sĩ Phan Ngọc Nam - Ủy viên
- Bác sĩ Trần Hữu Qúi - Ủy viên
- Bác sĩ Nguyễn Phan Việt - Ủy viên

* Ban Chấp hành Đảng bộ hoạt động đến đại hội Đảng bộ Bệnh viện lần thứ IV, tháng 11 năm 1998 được tổ chức. Đại hội có 99/104 đảng viên tham dự. Đại hội đã thành công tốt đẹp, ra nghị quyết lãnh đạo toàn diện, sát thực tế. Nghị quyết nhấn mạnh: tiếp tục ổn định tư tưởng; củng cố tổ chức; nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học; làm tốt công tác đào tạo; chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho cán bộ công nhân viên chức một cách thiết thực…

Đại hội đã bầu BCH mới gồm 6 đồng chí
1) Bác sĩ Vũ Bằng Giang - Bí thư
2) Bác sĩ Nguyễn Quốc Khánh - Phó bí thư
3) Bác sĩ Hồ Vân Hằng - Uy viên
4) Bác sĩ Nguyễn Hoàng Anh - Uy viên
5) Bác sĩ Hà Văn Lợi - Uy viên
6) Bác sĩ Nguyễn Thị Khanh - Uy viên
Đảng bộ có 10 chi bộ.

* Tháng 9 năm 2000 Đảng bộ Bệnh viện đại hội lần thứ V (2000 - 2002). Đại hội có 96/105 đảng viên tham dự. Mục tiêu của đại hội được xác định là "đánh giá một cách toàn diện kết qủa thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ nghị quyết của Đại hội lần IV, chỉ rõ những mặt làm được và những tồn tại, đồng thời đề ra phương hướng sát thực tế, khoa học và đổi mới".

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khoá V gồm 5 đồng chí:
1) Bác sĩ Vũ Bằng Giang, Phó Giám đốc - Bí thư
2) Bác sĩ Nguyễn Quốc Khánh, Giám đốc - Phó bí thư
3) Bác sĩ Hà Văn Lợi, trưởng phòng Kế hoạch TH - Uy viên
4) Bác sĩ Hồ Vân Hằng, trưởng khoa Nội Tiêu hóa - Uy viên
6) 6) Bác sĩ Nguyễn Hoàng Anh, Phó khoa Ngoại T. kinh - Uy viên


*Đại hội toàn thể đảng bộ Bệnh viện Nhân dân 115 lần thứ VI (2003 - 2005) được tổ chức vào ngày 15 tháng 4 năm 2003. Về dự đại hội có 105/117 đảng viên. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành nhiệm kỳ mới gồm 9 đồng chí:

1) Bác sĩ Vũ Bằng Giang -Bí thư
2) Bác sĩ Nguyễn Quốc Khánh -Phó bí thư
3) Bác sĩ Hà Văn Lợi -Uỷ viên
4) Bác sĩ Nguyễn Xuân Bình -Uỷ viên
5) Bác sĩ Nguyễn hoàng Anh -Uỷ viên
6) Bác sĩ Nguyễn Ngọc Anh -Uỷ viên
7) Bác sĩ đỗ tiến dũng -Uỷ viên
8) Bác sĩ Nguyễn Thị Kim Liên -Uỷ viên
9) Bác sĩ Lưu Anh hùng -Uỷ viên

Toàn đảng bộ có 10 chi bộ:

1. Chi bộ Khoa Nội 1 + 3 + 4, bác sĩ Trần Thu Hà, bí thư
2. Chi bộ Khoa Nội 2 + Nội Tổng hợp 3, BS Phan Ngọc Khánh, bí thư
3. Chi bộ Hành chính QT - Dinh dưỡng, CN Nguyễn Văn Hiệu, bí thư
4. Chi bộ Khoa Liên chuyên khoa+ Khám bệnh +Y học Dân tộc, bác sĩ Lưu Anh Hùng, bí thư
5. Chi bộ phòng Kế hoạch Tổng hợp + Trang bị + Dược+ Chống nhiễm khuẩn + Điều dưỡng, bác sĩ Vũ Đức Thịnh, bí thư
6. Chi bộ Khoa X quang + Chẩn đoán chức năng + Xét nghiệm, bác sĩ Nguyễn Duy Lượng, bí thư
7. Chi bộ Phòng Tổ chức cán bộ + Kế toán tài chính, cử nhân Đỗ Hồng Dân, bí thư
8. Chi bộ Khoa Cấp cứu tổng hợp, bác sĩ Nguyễn Ngọc Long, bí thư
9. Chi bộ Phòng mổ + Hồi sức tích cực, BS Nguyễn Ngọc Anh, bí thư
10. Chi bộ Ngoại Tổng hợp + Ngoại Thần kinh + Thận , bác sĩ Nguyễn Hoàng Anh, bí thư.

*Nhiệm vụ chung của Đảng bộ:
-Là hạt nhân chính trị
-Lãnh đạo đường lối chủ trương phù hợp với nhiệm vụ chính trị của Bệnh viện
-Lãnh đạo xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh

*Nhiệm vụ cụ thể:
-Lãnh đạo thực hiện công tác chuyên môn khám chữa bệnh
-Lãnh đạo thực hiện công tác cán bộ
-Lãnh đạo công tác tư tưởng
-Lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ
-Lãnh đạo công tác vận động quần chúng
-Lãnh đạo xây dựng tổ chức đảng

* Từ năm 1998 - 2003, công tác lãnh đạo của Đảng bộ đã đạt được những kết quả nhất định: Chất lượng khám chữa bệnh ngày càng được nâng cao, các chỉ tiêu kế hoạch hằng năm đều vượt, thực hiện y đức tiến lên một bước. Công tác tài chính kinh tế được công khai; công tác hành chính quản trị đáp ứng phục vụ bệnh nhân, phù hợp thực tế của Bệnh biện. Công tác dược đảm bảo đủ thuốc thiết yếu, thuốc theo danh mục. Thực hiện sử dụng thuốc an toàn hợp lý theo quy chế Dược. Tổ chức bộ máy ngày càng hoàn chỉnh.

Biên chế tổ chức nhân sự

- Tổng số cán bộ nhân viên: 794 người
- Tổng số bác sĩ: 176
+ Tiến sĩ: 2 và 3 đang học
+ Thạc sĩ: 8 và 19 đang học
+ Chuyên khoa II: 4 và 4 đang học
+ Chuyên khoa I: 52 và 18 đang học

- Dược sĩ đại học: 5 (2 chuyên khoa I)
- Tổng số điều dưỡng: 253. Cử nhân điều dưỡng: 3 và 6 đang học. 100% y tá trưởng khoa có trình độ trung cấp trở lên.
- 76% cán bộ trưởng phó khoa phòng có trình độ sau đại học.
- Bệnh viện có 22 khoa và 7 phòng chức năng, ngoài các khoa phòng hiện có vào thời điểm năm 1989 - 1990, sau này thành lập thêm một số khoa phòng mới và bổ nhiệm, điều động một số cán bộ

* Năm 1997, cử nhân Đỗ Hồng Dân, được bổ nhiệm Trưởng phòng Tài chính kế toán thay cử nhân Vũ Văn Nam chuyển đơn vị khác.
* Năm 1998, bác sĩ Nguyễn Văn Mười, được bổ nhiệm Trưởng phòng Tổ chức cán bộ
* Phòng Vật tư thiết bị y tế, được tách ra từ khoa Trang bị- Thanh trùng theo QĐ số 465/QĐ-TCCB, do Giám đốc Nguyễn Quốc Khánh ký ngày 07 tháng 10 năm 1999. Kỹ sư Quách Tuấn Khải, trưởng phòng
* Khoa Nội Tổng hợp I (tiêu hóa), bác sĩ Trương Thị Hồng Lạc,trưởng khoa. Tháng 7 năm 2000, bác sĩ Lạc về hưu. Bác sĩ Hồ Vân Hằng, trưởng khoa.
* Khoa Nội Tổng hợp 2(tim mạch), bác sĩ Trần Hữu Qúy, trưởng khoa. Đến tháng 01 năm 2001 do nhu cầu thực tế, Khoa Nội Tổng hợp 2 được tách ra làm 2 khoa: Tim mạch A và Tim mạch B, theo quyết định số 13/QĐ-BV ngày 05 tháng 01 năm 2001 của Giám đốc Bệnh viện. Bác sĩ Trần Hữu Qúy giữ chức Trưởng khoa Nội Tim mạch A (A2A).
* Bác sĩ Nguyễn Thanh Hiền được bổ nhiệm Trưởng khoa Nội Tim mạch B (A2B).
* Năm 1998, bác sĩ Nguyễn Thị Kim Liên, được bổ nhiệm Trưởng khoa Nội Thần kinh
* Năm 1998, bác sĩ Nguyễn Đại Biên được bổ nhiệm Trưởng khoa Nội Tổng hợp 3 (Khoa dịch vụ - khu B), thay bác sĩ Trần Phương Hạnh chuyển đơn vị khác
* Khoa Ngoại Tổng hợp, bác sĩ Ngô Viết Tuấn, trưởng khoa, thay bác sĩ Nguyễn Ngọc Thạch nghỉ hưu
* Khoa Liên Chuyên khoa, bác sĩ Nguyễn Anh Võ, trưởng khoa. Đến tháng 7 năm 2000 bác sĩ Võ về hưu. Bác sĩ Nguyễn Thị Khanh được bổ nhiệm trưởng khoa.
* Khoa Gây mê Hồi sức, bác sĩ Nguyễn Ngọc Anh, trưởng khoa
* Khoa Hồi sức tích cực, được tách ra từ Khoa Hồi sức Cấp cứu theo quyết định số 164/QĐ-TCCB ngày 14 tháng 4 năm 1999 do Giám đốc Bệnh viện ký. Bác sĩ Đỗ Quốc Huy, trưởng khoa
* Khoa Cấp cứu tổng hợp, cũng được tách ra từ Khoa Hồi sức cấp cứu theo quyết định số 164/QĐ-TCCB ngày 14 tháng 4 năm 1999 do Giám đốc Bệnh viện ký. Bác sĩ Phạm Đăng Lư, trưởng khoa
* Khoa Khám bệnh, bác sĩ Nguyễn Phan Việt, trưởng khoa
* Khoa Chống nhiễm khuẩn, được tách ra từ khoa Trang bị - Thanh trùng theo quyết định số 465/QĐ-TCCB ngày 7 tháng 10 năm 1999 do Giám đốc Bệnh viện ký. Bác sĩ Vũ Đức Thịnh, trưởng khoa
* Khoa Dinh dưỡng, được thành lập theo quyết định số 74/QĐ-TCCB ngày 4 tháng 2 năm 1999 do Giám đốc Bệnh viện ký. Bác sĩ Thẩm Thành Yên, trưởng khoa
* Khoa Xét nghiệm, Thạc sĩ Nguyễn Văn Lộc, quyền trưởng khoa, thay bác sĩ Lương Thục Quyên nghỉ hưu
* Khoa Chẩn đoán chức năng, bác sĩ Phạm Hữu Văn, trưởng khoa, thay bác sĩ Hồ Vân Hằng được điều về Khoa Nội 1
* Tổ CT Scanner (trực thuộc Giám đốc) được tách ra từ Khoa X quang theo quyết định số 19/QĐ-TCCB ngày 8 tháng 01 năm 1999 do Giám đốc Bệnh viện ký.
* Phòng Chỉ đạo tuyến, được thành lập ngày 8 tháng 9 năm 2003 theo quyết định số 975/QĐ-BV do Giám đốc Bệnh viện ký. Bác sỹ Nguyễn Văn Mười, trưởng phòng.

* Ngoài ra, Bệnh viện còn có các hội đồng, ban, tổ để giúp Giám đốc giải quyết một số công việc, như:
* H ội đồng Thi đua
* Hội đồng Khoa học kỹ thuật
* Hội đồng Thuốc và Điều trị
* Ban Chỉ đạo Xã hội hóa y tế
* Ban Đối ngoại
* Ban "vì sự tiến bộ của phụ nữ"
* v.v…
Bệnh viện Nhân dân 115

Các chỉ tiêu và kết quả thực hiện
1998:
+ Chỉ tiêu giường nội trú 550, thực hiện 620, đạt 119%
+ Chỉ tiêu giường ngoại trú 200, thực hiện 320, đạt 160%
1999:
+ Chỉ tiêu giường nội trú 550, thực hiện 645, đạt 117%
+ Chỉ tiêu giường ngoại trú 200, thực hiện 210, đạt 105%
2000:
+ Chỉ tiêu giường nội trú 600, thựchiện 752, đạt 125%
+ Chỉ tiêu giường ngoại trú 200, thực hiện 558, đạt 279%
2001:
+ Chỉ tiêu giường nội trú 650, thực hiện 818, đạt 125%
+ Chi tiêu giường ngoãi trú 400, thực hiện 592, đạt 148%
2002:
+ Chỉ tiêu giường nội trú 700, thực hiện 933, đạt 133%
+ Chỉ tiêu giường ngoại trú 700, thực hiện 732, đạt 104%
2003:
+ Chỉ tiêu giường nội trú 750, thực hiện , đạt %
+ Chỉ tiêu giường ngoại trú , thực hiện , đạt %

* Tất cả các chỉ tiêu cơ bản đều phát triển cùng nhịp độ tăng trưởng chung của Bệnh viện.

* Về nhân sự (lao động)
-Năm 1998: 570/520 chỉ tiêu biên chế; cán bộ chủ chốt: 39
- Năm 2002: 770/588 chỉ tiêu biên chế; cán bộ chủ chốt: 51
* Công tác chuyên môn
Bệnh viện Nhân dân 115 có 2 mũi nhọn chuyên khoa của TP. HCM về thần kinh và thận niệu đã tạo được uy tín, sự tin tưởng về chuyên môn đối với các bệnh viện trong thành phố, các bệnh viện tỉnh thành phía Nam giới thiệu bệnh nhân đến diều trị ngày càng tăng.
- Khoa Ngoại thần kinh, chỉ tiêu giường bệnh năm 1997: 60 - 65, nhân sự: 15 bác sĩ trong đó có 4 bác sĩ sau đại học, 15 điều dưỡng trung cấp. Năm 2002: Chỉ tiêu giường bệnh 70; nhân sự: 16 bác sĩ trong đó có 9 bác sĩ có trình độ sau đại học. Khoa Ngoại Thần kinh BVND 115 được thành lập từ tháng 12/1991. Từ đó đến nay số lượng bệnh nhân không ngừng gia tăng, ngoài số bệnh nhân bị chấn thương sọ não và chấn thương cột sống, khoa còn điều trị và phẩu thuật những trường hợp bệnh lý về sọ não và cột sống; tuỷ sống. Nếu năm 1994 có 9395 nạn nhân bị CTSN vào cấp cứu, 1979 người được nhập viện theo dõi và điều trị, 402 ca đại phẩu chấn thương sọ não được thực hiện thì trong năm 2002 có 18737 nạn nhân CTSN vào cấp cứu, 2628 người được nhập viện theo dõi và điều trị, 652 ca đại phẩu CTSN được thực hiện. Về phát triển kỹ thuật mới, năm 2002 nhiều kỹ thuật mới đã được triển khai như: Kính hiển vi phẩu thuật (WILD-Switzerland); Dụng cụ giữ đầu lúc mổ (Mayfield); Banh não tự động (écarteur autostatique de Leyla); Khung "Stereotaxis" Leksell (model D).

Về công tác huấn luyện và nghiên cứu khoa học, khoa phối hợp với Trung tâm Đào tạo nhận sinh viên y khoa, học sinh điều dưỡng đến thực tập. Hàng năm, khoa đã cùng TTĐT làm việc phối hợp với đoàn GS, BS Ngoại Thần kinh và Hình ảnh học Pháp, tổ chức mỗi năm 2 lần, mỗi lần 2 tuần lễ, các lớp bồi dưỡng chuyên ngành Ngoại Thần kinh cho các bác sĩ công tác tại các bệnh viện trong TP.HCM và các tỉnh lân cận. Năm 2001, tổ chức huấn luyện cho đoàn BS, ĐD Lào (tỉnh Champasak) về ngoại thần kinh.

Đầu năm 2000, Bệnh viện đã thành lập đơn vị tai biến mạch máu não (stroke unit) đi vào hoạt động đã thu hút nhiều bệnh nhân đến điều trị, có lúc không đủ giường cho các bệnh nhân bị tai biến mạch máu não nặng. Để phục vụ cho việc chẩn đoán điều trị được tốt, Bệnh viện đã trang bị máy điện não (1997), điện cơ (2000). Năm 2003, máy chụp mạch máu xoá nền (DSA: Digital Serial Angiography) được đưa vào hoạt động đã giúp việc chẩn đoán các bệnh mạch máu não dễ dàng hơn trước.

Bên cạnh đó khoa tim mạch được đầu tư phát triển về chuyên môn, mặt bằng (đã tách ra 2 khoa tim mạch) dẫn đến bệnh nhân chuyên khoa ngày càng đông. Cụ thể, chỉ tiêu giường bệnh, năm 1998: 85 giường và đạt 145,8%; năm 2002: 185 giường và đạt 122% (cả 2 khoa). Giường cấp cứu, năm 1998 có 4 giường, nhưng đến năm 2002 có 20 - 25 giường cho cả 2 khoa. Số bệnh nhân cấp cứu trong năm 1998 có 205 cas thì đến năm 2002 có 1525 cas, đồng thời số bệnh nhân nặng cũng tăng lên.

Về trang bị kỹ thuật, ở khoa chẩn đoán chức năng có: 4 máy siêu âm dopler màu; Máy kích thích nhĩ để thăm dò chức năng điện sinh lý tim; Máy holter ECG và huyết áp; Máy siêu âm mạch máu, gắng sức. Khoa Tim mạch được trang bị: Máy phá rung 3; Monitoring 6; Máy khí dung 8. Từ năm 1999 đến nay đã có hệ thống oxy tường tiện lợi.

Bệnh viện luôn được sự tin tưởng của Cơ quan Bảo hiểm Y tế và bệnh nhân diện bảo hiểm y tế nên số lượng người đăng ký bảo hiểm y tế tại bệnh viện tăng đáng kể.
Do phát triển chuyên khoa sâu ngoại thần kinh và các chuyên khoa liên quan đến chấn thương nên bệnh viện trở thành một nơi cấp cứu có số lượng bệnh nhân ngày càng tăng theo sự phát triển kinh tế xã hội của Thành phố. Trong năm 1998 - 2003, Bệnh viện đã thực hiện tốt các nhiệm vụ được Sở y tế phân công, tổ chức cấp cứu kịp thời cho nhân dân. Bệnh viện luôn thực hiện tốt các quy định về y đức và tiêu chuẩn phấn đấu của người làm công tác y tế. Bệnh viện cũng luôn quan tâm nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị bằng mọi khả năng của mình.

Hồ sơ bệnh án được thực hiện đúng theo quy chế của Bộ Y tế. Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, áp dụng nhiều kỹ thuật mới trong chuyên môn; rút ngắn thời gian điều trị, tăng cường điều trị ngoại trú, giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân.

Dù gặp khó khăn về nhân lực do thiếu người, hiện nay Bệnh viện đã tổ chức việc chăm sóc bệnh nhân toàn diện. Điều đó đã đưa lại kết quả tốt, giảm tỷ lệ sai sót ảnh hưởng đến sức khoẻ người bệnh, tăng cường giám sát tiến trình thực hiện kỹ thuật vô khuẩn, nâng cao chất lượng chăm sóc phục vụ người bệnh. Phần lớn các khoa lâm sàng có bảng phân công điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân. Thông báo danh sách bệnh nhân, hộ lý cấp 1,2 trên bảng hàng ngày. Tổ chức sinh hoạt đều hàng tuần với người bệnh kết hợp giáo dục y tế. Thực hiện tốt công tác huấn luyện điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ lý tại khoa và tại Bệnh viện. Phòng Điều dưỡng đã tổ chức mời giáo viên huấn luyện bồi dưỡng thống nhất lại kỹ thuật và cập nhật kiến thức mới cho toàn bộ điều dưỡng kỹ thuật viên. Kiểm tra tay nghề điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ lý nhằm nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, giảm mức độ sai sót và nâng cao y đức để đưa chất lượng chăm sóc bệnh nhân ngày càng nâng cao. Bệnh viện đã tạo điều kiện cho các điều dưỡng trưởng tham quan học tập ở các bệnh viện trong nước hoặc nước ngoài. Ban Giám đốc quan tâm đến trình độ ngoại ngữ của điều dưỡng, mở những lớp ngoại ngữ tại chỗ để điều đưỡng thuận lợi trong học tập. Các đợt tham gia thi tay nghề điều dưỡng giỏi cấp thành phố và toàn quốc, bệnh viện đều đạt giải: Năm 1999 đạt 1 giải 3 và 1 giải khuyến khích cấp thành phố; năm 2000 giải nhất TP và giải nhất toàn quốc; năm 2001 giải 3 và giải khuyến khích; năm 2003 có 4 điều dưỡng vào bán kết và được thành phố tặng bằng khen về thành tích 5 năm đào tạo - huấn luyện - kiểm tra tay nghề liên tục.

Thực hiện nghiêm quy chế chống nhiễm khuẩn bệnh viện, góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh. Công tác vệ sinh bệnh viện ngày càng được chú trọng hơn. Đội ngũ hộ lý, y công được huấn luyện các thao tác theo đúng quy trình, quy chế bệnh viện. Kiểm soát chặt chẽ nhiễm khuẩn qua các kỹ thuật chăm sóc người bệnh, nhất là các kỹ thuật xâm lấn da và mạch máu ( thông tiểu, cho ăn bằng ống, đặt Catheter,… ). Từ đó, môi trường bệnh viện được cải thiện mà kết quả là được đánh giá cao qua các đợt kiểm tra.

*Nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến & hợp tác quốc tế
Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, giao đề tài nghiên cứu cho các khoa. Nhiều đề tài nghiên cứu đã được áp dụng có hiệu quả trong chẩn đoán và điều trị (mổ sọ não với khung định vị, truyền máu hoàn hồi, gây mê bằng COPA cho những ca mổ ngắn, holter 24 giờ, …). Nhiều đề tài có giá trị đã được Hội đồng Khoa học Bệnh viện chọn đề nghị Sở công nhận đề tài cấp sở, như: Chấn thương sọ não điều trị ở Bệnh viện Nhân dân 115 (1992-1997); Sơ kết điều trị u nội sọ tại Khoa Ngoại Thần kinh -BV.ND115 (1993 - 1997) của bác sĩ Lê Điền Nhi. Trong năm 2002, toàn Bệnh viện đã hoàn thành 15 đề tài nghiên cứu ở các lĩnh vực. Sinh hoạt chuyên môn được duy trì đều đặn mỗi chiều thứ 3 hàng tuần.

Thực hiện tốt công tác chỉ đạo tuyến được phân công: Quận 3,10 ,12, Hóc Môn. Tăng cường bác sĩ về công tác hỗ trợ cho Trung tâm Y tế Tân Trụ (Long An). Tham gia khám định kỳ hàng năm phân loại sức khoẻ cho học viên và hỗ trợ chuyên môn của 3 trung tâm cai nghiện.

Được sự phân công của Sở Y tế, Bệnh viện cùng Trung tâm Đào tạo & Bồi dưỡng Cán bộ Y tế TP HCM tham gia hợp tác chuyên môn và giảng dạy cùng với các đoàn bác sĩ Pháp về phẩu thuật thần kinh và hình ảnh học thần kinh định kỳ hàng năm trong 5 năm qua. Hợp tác quốc tế về chuyên môn, đào tạo sau đại học với Bangkok General Hospital và nhiều đòan nước ngoài đến điều trị, giảng dạy các lĩnh vực tai mũi họng, mắt, chỉnh hình, …

*Công tác đào tạo
Bệnh viện chú trọng công tác đào tạo cán bộ phục vụ nhiệm vụ chuyên môn. Năm 2002 đào tạo 4 nghiên cứu sinh, 9 chuyên khoa II, 28 chuyên khoa I, 12 cao học, 10 cử nhân điều dưỡng, 4 cao cấp chính trị, 3 đào tạo tại Cộng hòa Pháp (chương trình FFI). Thực hiện chương trình đào tạo liên tục cho bác sĩ tại bệnh viện. Tổ chức các khoá học bồi dưỡng chuyên môn cho điều dưỡng và hộ lý. Bệnh viện đã phối hợp chặt chẽ với các trường y trên địa bàn và trở thành cơ sở thực hành của Trường Đại học Y dược TP HCM, Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng Cán bộ Y tế TP HCM, Học viện Quân y, Trung học Quân y II.
- Giường nội trú trung bình ngày:
- Tổng số lượt khám bệnh:
- Giường điều trị ngoại trú:
- Bệnh nhân vào cấp cứu:
- Phẫu thuật:
- Xét nghiệm:
- Chụp X quang:
- Siêu âm:

*Chính sách miễn giảm phí & khám từ thiện
Bệnh viện luôn quan tâm chăm sóc đến bệnh nhân thuộc đối tượng chính sách, người nghèo, vô gia cư. Năm 1998-2002 đã tổ chức nhiều đợt khám bệnh cấp thuốc miễn phí cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, lũ lụt miền Trung, miền Tây. Trong năm 2003, Bệnh viện đã phối hợp đoàn GS BS Mỹ tổ chức phẩu thuật miễn phí bàn tay cho các nạn nhân bị di chứng do chiến tranh, tai nạn, bẩm sinh, …

Kinh phí khám từ thiện (triệu đồng)

* Một số mặt công tác khác
- Tham gia và thực hiện tốt kế hoạch 315: làm nhiệm vụ bệnh viện khu vực trong chương trình phòng thủ của Thành phố - (quyết định số 315/TTg ngày 15 tháng 6 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao chỉ tiêu kế hoạch động viên và huy động lực lượng ngành y tế đảm bảo nhu cầu trong chiến tranh và các tình huống cần thiết khác). Là một Viện Quân y trước đây, vì vậy, hầu hết nhân viên đã từng là quân nhân, nên mọi sự huy động con người, vật chất, phương tiện phục vụ cho công tác diễn tập đều được đáp ứng kịp thời, thể hiện tinh thần sẵn sàng phục vụ chiến đấu cao, ý thức về chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân tốt, nhất là trong tình hình thế giới có nhiều biến đổi về chính trị-xã hội. Mỗi đợt diễn tập, Bệnh viện đều được Ban Chỉ huy Quân sự Thành phố, Sở Y tế tặng bằng khen, giấy khen về thành tích huy động lực lượng dự bị động viên.
- Thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa y tế, nhiều đề án xã hội hóa đã được triển khai và đạt hiệu quả, đúng chính sách:
+ Bệnh viện tự trang bị: 01 máy phân tích khí trong máu, hiệu EASYBCOODGAS; 01 bộ hệ thống mới cấy máu và dịch cơ thể.
+ Xã hội hóa: 01 máy nội soi; 01 máy CT xoắn ốc và một số phương tiện kỹ thuật khác
+ Năm 2003, mua và đưa vào sử dụng máy chụp mạch máu xóa nền (DSA), trị giá 13 tỷ đồng bằng nguồn vốn vay.

* * *
Như vậy, trong giai đọan 1998 - 2003, Bệnh viện đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của mình, thể hiện qua các số liệu đã nêu trên. Từng bước nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc bệnh nhân toàn diện, công tác nghiên cứu khoa học. Cấp cứu điều trị, chất lượng chuyên môn ngày càng nâng lên, khẳng định được uy tín và vị thế của Bệnh viện với nhân dân và các đơn vị bạn. Chỉ tiêu thực hiện luôn luôn vượt, năm sau cao hơn năm trước. Đặc biệt trong chuyên môn nghiệp vụ có một số lĩnh vực nổi bật, như tim mạch, ngoại thần kinh, thận niệu,…

Đảm bảo tốt nhất về cơ sở vật chất trong điều kiện có thể. Tuy kinh phí khó khăn - trên cấp có hạn, nguồn vốn tự có không nhiều, nhưng với sự nỗ lực của Ban Giám đốc và Phòng Hành chính quản trị, Tài chính kế toán, đã đáp ứng được nhu cầu về buồng bệnh cho bệnh nhân. Năm 2001, đưa vào sử dụng khu nhà mới xây làm khu hành chính, trị giá hơn 2 tỷ đồng. Đầu năm 2003, đưa vào sử dụng khu nhà xây cho Khoa Thận niệu, gồm một trệt hai lầu với diện tích sử dụng 1.200 m2. Tổng kinh phí là 10 tỷ đồng (cả phần xây dựng và trang thiết bị ).Công trình này có ý nghĩa rất lớn đối với người bị bệnh thận ở Thành phố và các tỉnh lân cận. Phòng ốc tiện nghi, máy móc kỹ thuật hiện đại, Khoa Thận niệu có đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu chạy thận nhân tạo và mở ra khả năng ghép thận như ở một số bệnh viện khác. Cuối năm 2003, khu cấp cứu, điều trị ban ngày, khoa khám bệnh sẽ được xây mới phía đường Sư Vạn Hạnh, bằng nguồn vốn kích cầu với tổng giá trị khoảng 45 tỷ đồng (bao gồm cả trang thiết bị).

Công tác tài chính - kế toán có nhiều tiến bộ, thể hiện trong quản lý tài chính, cải tiến khâu thu viện phí; các biện pháp chống thất thu; xây dựng biểu giá viện phí hợp lý; xây dựng chương trình kích cầu, xã hội hóa y tế…. Vì thế, chương trình xã hội hóa y tế bước đầu đã đem lại kết qủa tốt, chỉ trong một thời gian ngắn, Bệnh viện đã có sự đầu tư đáng kể về máy móc thiết bị. Các chế độ giám sát, kiểm tra tài chính, nghiệm thu công trình, thanh quyết toán đều thực hiện đúng chế độ. Cùng các phòng ban khác, Phòng Tài chính - kế toán đã góp phần quản lý giám sát thu, chi; bảo đảm nguồn vốn, cung cấp kinh phí cho các hoạt động của Bệnh viện. Trong những năm qua thu nhập của người lao động được nâng lên, đời sống cán bộ công nhân viên chức được cải thiện đáng kể.

Công tác Dược được nâng lên một bước đáp ứng đủ thuốc thiết yếu, thuốc danh mục cần thiết và các yêu cầu khác.
Tổ chức lực lượng lao động hợp lý, dần dần đáp ứng yêu cầu của các khoa, đủ nhân lực phục vụ và ngày một hoàn thiện, đúng với quy chế của ngành.

Công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng đã đạt được những thành tựu quan trọng. Từ một Đảng bộ không ổn định, mất đoàn kết, song chỉ trong một thời gian ngắn, dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy và Ban Giám đốc mới, tư tưởng đảng viên ổn định, chế độ sinh hoạt đi vào nề nếp. Mấy năm gần đây Đảng bộ Bệnh viện luôn đạt Đảng bộ "trong sạch vững mạnh".
- - Năm 1998, Bệnh viện được UBND Thành phố tặng bằng khen về thành tích hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch.
- Năm 1999, Sở Y tế tặng giấy khen, Uỷ ban Nhân dân Thành phố tặng bằng khen.
- Năm 2000, Bộ Y tế tặng bằng khen
- Năm 2001, Bộ Y tế tặng bằng khen và UBND Thành phố cũng tặng bằng khen. Có 14 cá nhân đạt danh hiệu Chiến sĩ Thi đua, trong đó có bác sĩ Lê Điền Nhi - Phó Giám đốc Bệnh viện.

Nhìn lại giai đoạn vừa qua, toàn thể cán bộ công nhân viên đã đoàn kết, thống nhất với Đảng ủy, Ban Giám đốc, quyết tâm đưa Bệnh viện phát triển toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ chính trị được giao. Có thể khẳng định rằng, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ủy, sự chỉ đạo của Ban Giám đốc; đội ngũ cán bộ năng động sáng tạo, có đạo đức, lối sống trong sạch lành mạnh; không ngừng nâng cao đời sống cho người lao động là bài học có ý nghĩa lớn. Toàn Đảng bộ đoàn kết một lòng, có tinh thần khắc phục khó khăn, chủ động sáng tạo, khiêm tốn học hỏi rút kinh nghiệm, đồng thời tích cực tiếp thu cái mới, mở rộng quan hệ hợp tác với các bệnh viện bạn và quốc tế; tranh thủ sự giúp đỡ của cấp trên. Mặt khác luôn luôn làm tốt công tác quản lý con người trên cơ sở quy hoạch, đào tạo, đánh giá chính xác năng lực cán bộ. Xây dựng và tổ chức thực hiện theo chức trách nhiệm vụ, cải tiến lề lối làm việc, phối hợp hoạt động giữa các bộ phận trong đơn vị theo hướng có hiệu qủa. Làm tốt công tác giáo dục chính trị lãnh đạo tư tưởng; khơi dậy lòng nhiệt tình sáng tạo của quần chúng; kết hợp giữa động viên tinh thần và khuyến khích bằng quyền lợi vật chất.
Bệnh viện Nhân Dân 115

Bệnh viện Nhân Dân 115 là bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc Sở Y Tế Thành Phố Hồ Chí Minh. Với chỉ tiêu giường bệnh là 1600 giường, nhân viên 1700 người. Mỗi ngày Bệnh viện tiếp đón và điều trị trung bình 2000 bệnh nhân ngọai trú, 1900 bệnh nhân nội trú. Trong năm 2008, Bệnh viện Nhân Dân 115 đã tiến hành triển khai nhiều kế họach, họat động, nhằm mục đích tạo sự hài lòng cho người bệnh trong quá trình khám và điều trị.là bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc Sở Y Tế Thành Phố Hồ Chí Minh. Với chỉ tiêu giường bệnh là 1600 giường, nhân viên 1700 người. Mỗi ngày Bệnh viện tiếp đón và điều trị trung bình 2000 bệnh nhân ngọai trú, 1900 bệnh nhân nội trú.

Trong năm 2008, Bệnh viện Nhân Dân 115 đã tiến hành triển khai nhiều kế họach, họat động, nhằm mục đích tạo sự hài lòng cho người bệnh trong quá trình khám và điều trị.
Thực hiện chương trình Cải thiện chất lượng quản lý tại khoa khám, điện toán hóa tại phòng khám trong việc ghi toa, lãnh thuốc, ghi xét nghiệm ..., sắp xếp tổ chức lại quy trình họat động của phòng Khám nhằm rút ngắn thời gian chờ của bệnh nhân, giảm áp lực công việc cho nhân viên y tế.
Bệnh viện xây dựng phòng Khám theo yêu cầu nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, giảm quá tải cho Khu Khám bệnh, góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho người dân.
Bệnh viện đã đưa vào họat động Khu Kích cầu với quy mô 6 tầng lầu, số giường chỉ tiêu 283 giường, đưa một số khoa từ khu vực hiện hữu ra khu mới,phòng bệnh rộng hơn, khang trang hơn, giải quyết được một phần quá tải trước đây.

 

[Trở về]
Các tin đã đăng

BỆNH VIỆN NHÂN DÂN 115
Địa chỉ: 527 Sư Vạn Hạnh – Phường 12 – Quận 10 – Tp.HCM
Điện thoại : (08) 3865 4249 – (08) 3865 5110 – Fax: (08) 3865 5193
----------------------------------
Số điện thoại đường dây nóng (24/24): 096 7701 010
Số điện thoại liên hệ Phòng Kế Hoạch Tổng Hợp (giờ hành chính): 08 38620011
Số điện thoại liên hệ bộ phận chăm sóc khách hàng (24/24): 0906 336 115
Bản quyền Bệnh viện Nhân dân 115